Kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ 14 kết thúc, chính trường Việt Nam đã chứng kiến một cuộc chuyển dịch quyền lực chưa từng có trong lịch sử của Đảng CSVN kể từ năm 1986 cho đến nay.
Tuy nhiên, theo giới quan sát, sự tập trung quyền lực này cũng đặt ra những câu hỏi về tính chính danh, đạo đức lãnh đạo và sự ổn định bền vững của thể chế chính trị Việt nam trong “kỷ nguyên mới”.
Trên mạng xã hội ở Việt nam trong những ngày gần đây, nhiều người đã liên tưởng đến “người hùng bàn tay sắt” – cựu Tổng thống Mông Cổ Khaltmaagiin Battulga (nhiệm kỳ 2017 – 2021).
Được biết, cựu Tổng thống Battulga là người từng ra tối hậu thư buộc quan chức Mông Cổ phải trả lại toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt của quốc gia ngay lập tức trước khi bị xử lý triệt để.
Tuy nhiên, theo giới phân tích chính trị cho rằng kỳ vọng kể trên của người Việt nam có một khoảng cách rất lớn giữa mong muốn và thực tế chính trị tại Việt Nam.
Theo đó, một nhà lãnh đạo muốn thực thi những biện pháp “cực đoan” để làm sạch bộ máy theo kiểu cựu Tổng thống Battulga, trước hết phải sở hữu một nền tảng đạo đức cá nhân không tì vết.
Nhưng, ở điểm này, ông Tô Lâm đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng về uy tín chính trị cũng như phẩm chất đạo đức.
Những vết chàm từ quá khứ, như sự kiện “bò dát vàng” hay những nghi vấn quanh hệ sinh thái của gia đình như Xuân Cầu Holding, đã tạo nên một rào cản tâm lý lớn khó có thể thuyết phục được công chúng.
Đặc biệt, việc ông Tô Lâm từng nhận số phiếu tín nhiệm thấp kỷ lục tại Quốc hội Khóa 15 vào cuối năm 2023 là một minh chứng sống động, và cho thấy sự hoài nghi ngay trong bộ máy lập pháp về phẩm chất và năng lực điều hành của ông.
Chính sự thiếu hụt về “quyền lực mềm” và uy tín đạo đức đã khiến chiến dịch bài trừ tham nhũng của Tổng Bí thư Tô Lâm hiện nay bị nhìn nhận như một công cụ thanh trừng phe phái hơn là một nỗ lực cải cách thực chất.
Khi một nhà lãnh đạo không tự chứng minh được sự liêm chính của bản thân và gia đình của mình, thì mọi chủ trương xây dựng một xã hội không có tiêu cực đều bị coi là những khẩu hiệu dân túy, thiếu sức thuyết phục.
Với một bộ máy lãnh đạo chủ chốt hầu hết là những gương mặt xuất thân từ ngành công an hay có mối quan hệ “thân hữu” với Tổng Bí thư, quyền lực tại Việt Nam đã tạo ra sự kiểm soát tuyệt đối.
Điều này tạo ra một hệ lụy trực tiếp lên bộ máy công chức và viên chức, thay cho sự nhiệt huyết cống hiến, là tâm lý lo âu và sợ hãi đang bao trùm.
Giới công chức hiện nay đang vận hành theo lối đối phó, và sợ trách nhiệm bởi họ hiểu rằng trong một hệ thống công an trị, khi phe Công an chiếm thế thượng phong, ranh giới giữa sai sót hành chính và tội phạm hình sự trở nên vô cùng mong manh.
Sự im lặng và phục tùng hiện tại không đồng nghĩa với sự ủng hộ, mà là kết quả của quyền lực cưỡng chế của phe Công an đang ở đỉnh cao.
Đối với khối doanh nghiệp tư nhân, sự lo ngại còn hiển hiện rõ rệt hơn, chủ trương hình sự hóa các quan hệ kinh tế dưới thời ông Tô Lâm đã tạo ra một sự đình trệ đáng kể. Khiến các doanh nhân đang quan sát thế sự với một thái độ dè chừng.
Trong khi đó, thái độ của người dân trong xã hội cũng đang có sự phân cực sâu sắc. Một bộ phận công chúng vẫn khao khát một sự thay đổi trong kỷ nguyên mới, nhưng đại đa số tầng lớp tri thức và những người có hiểu biết lại quan ngại về sự thu hẹp không gian tự do.
Theo giới chuyên gia, mô hình nhất thể hóa hiện nay có nguy cơ trở thành một cấu trúc quyền lực độc đoán và rất dễ tổn thương.
Lịch sử đã chứng minh cho thấy: sự ổn định dựa trên sự kiểm soát tuyệt đối mà thiếu tính chính danh từ đạo đức và phẩm chất chính trị của người đứng đầu đều khó có thể đứng vững trước những biến động của thời đại và lòng dân.
Trà My – Thoibao.de










